Mộc hương có tên khoa học là Saussurea lappa (DC) C.B.Clarke, bộ phận sử dụng làm thuốc là rễ cây. Phân bố ở các tỉnh Quảng Đông, Vân Nam (Trung Quốc) nên còn có tên gọi khác là quảng mộc hương hay vân mộc hương, hiện được di thực về trồng ở nước ta. Theo y học cổ truyền, mộc hương được dùng làm thuốc giúp tiêu hóa tốt, bổ dạ dày, chữa đầy hơi, ho có đờm. Ngoài ra còn có tác dụng chữa đau bụng tiêu chảy, lỵ. Thành phần hóa học chủ yếu của rễ mộc hương gồm có inulin, chất nhựa saussurine và tinh dầu.
I. Thông tin về dược liệu
- Dược liệu tiếng Việt: Mộc Hương - Rễ
- Dược liệu tiếng Trung: 木香 (Mu Xiang)
- Dược liệu tiếng Anh: Saussurea Lappa [Syn. Aucklandia Lappa]
- Dược liệu latin thông dụng: Radix Saussureae Lappae
- Dược liệu latin kiểu DĐVN: Radix Saussureae Lappae
- Dược liệu latin kiểu DĐVN: nan
- Dược liệu latin kiểu thông tư: Radix Saussureae lappae
- Bộ phận dùng: Rễ (Radix)
Theo dược điển Việt nam V: Rễ hình trụ tròn hoặc hình chùy, dài 5 cm đến 15 cm, đường kính 0,5 cm đến 5 cm. Mặt ngoài màu vàng nâu đen nâu nhạt. Có vết nhăn và rẵnh dọc khá rõ, đôi khi có vết tích của rễ con. Thể chất hơi cứng, khó bẻ, vết bẻ không phẳng, màu vàng nâu hoặc nâu xám. Mùi thơm hắc đặc biệt.
Mô tả dược liệu theo thông tư chế biến dược liệu theo phương pháp cổ truyền: nan
Chế biến theo dược điển việt nam V: Chế biến Đào lấy rễ, rửa sạch, bỏ rễ con và thân lá còn sót lại hoặc bỏ cả vỏ ngoài (lớp bần) rồi cắt thành khúc dài 5 cm đến 15 cm, phơi trong bóng râm hoặc sấy ở nhiệt độ thấp đến khô. Bảo quản Để nơi khô, mát, tránh mốc mọt.
Chế biến theo thông tư: nan
II. Thông tin về thực vật
Dược liệu Mộc Hương - Rễ từ bộ phận Rễ từ loài Saussurea lappa.
Mô tả thực vật: 1. Quảng mộc hương còn gọi là vân mộc hương (Radix Saussureae lappae) là rễ phơi hay sấy khô của cây vân mộc hương (Saussurea lappa Clarke) thuộc họ Cúc (Asteraceae). Cây quảng mộc hương hay vân mộc hương là một cây sống lâu năm, rễ to mẫm, đường kính có thể đạt tới hơn 5cm, vỏ ngoài màu nâu nhạt. Phía gốc có lá hình 3 cạnh tròn, dài 12- 30cm, rộng 6-15cm, cuống dài 20-30cm có rìa, mép lá nguyên và hơi lượn sóng, hai mặt đều có lông, mặt dưới nhiều hơn. Trên thân cũng có lá hình 3 cạnh, nhưng càng lên trên kích thước lá càng nhỏ dần, mép có răng cưa, cuống lá càng lên cao càng ngắn lại, phía trên cùng là gần như không cuống hay có khi như ôm lấy thân cây. Hoa hình đầu, màu lam tím. Quả bế, hơi dẹt và cong queo, màu nâu nhạt, có những đốm màu tím. Mùa hoa vào các tháng 7-9, mùa quả vào các tháng 8-10. 2. Thổ mộc hương còn gọi là hoàng hoa thái (Radix Helenii) là rễ phơi hay sấy khô của cây thổ mộc hương (Inula helenium L.) cũng thuộc họ Cúc (Asteraceae). Cây Thổ mộc hương cũng là một cây sống lâu năm, cao 0,50-1,50m. Phía gốc có lá to, dài tới 40cm, trên thân có lá mọc so le nhỏ hơn, dài 10-30cm, phía cuống có hai tai ôm lấy thân, mép có răng cưa không đều. Cụm hoa hình đầu, hoa màu vàng. Quả bế, dài 4mm, trên có vân dọc.
Tài liệu tham khảo: “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” - Đỗ Tất Lợi Trong dược điển Việt nam, loài Saussurea lappa được sử dụng làm dược liệu.
Kingdom: Plantae
Phylum: Tracheophyta
Order: Asterales
Family: Asteraceae
Genus: Dolomiaea
Species: Dolomiaea costus
Phân bố trên thế giới: nan, United States of America, China, Pakistan, India
Phân bố tại Việt nam: Không có ghi nhận ở Việt Nam
III. Thành phần hóa học
Theo tài liệu của GS. Đỗ Tất Lợi: (1) Nhóm hóa học: Trong rễ cây quảng mộc hương có Inulin, Alkaloid (Saussurine) và Tinh dầu (costic-acid, dehydrocostus-lactone, phellandrene)
Chưa có nghiên cứu về thành phần hóa học trên cơ sở Lotus
IV. Tác dụng dược lý
Theo tài liệu quốc tế: To relieve pain by promoting the flow of qi, and to improve digestion by reinforcing the spleen function.
V. Dược điển Việt Nam V
Soi bột
Màu vàng nâu, vị cay hơi đắng. Soi kính hiển vi thấy: Mảnh ban màu nâu vàng. Mảnh mô mềm chứa những hạt inulin màu hơi vàng. Mảnh mạch vạch, mạch xoắn và mạch mạng. Sợi hợp thành từng bó hoặc đứng riêng lẻ, túi tiết tinh dầu hình tròn, chứa chất tiết màu vàng. Ngoài ra có nhiều hạt inulin hình khối, hình chuông, màu hơi vàng, có vân mờ, có kích thước khác nhau. nn
Vi phẫu
Lớp bần gồm vài lớp tế bào hình chữ nhật. Mô mềm vỏ ngoài mỏng gồm các tế bào phần nhiều hình đa giác, thành mỏng. Dải libe cấp 2 rời nhau, ngoằn ngoèo, xếp thành dãỵ xuyên tâm. Trong và ngoài các dải libe rải rác có các túi tiết tinh dầu. Tầng sinh libe-gỗ gồm một vòng tế bào. Gỗ cấp 2 xếp thành dãy xuyên tâm, hợp thành từng dải ứng với mỗi dài libe. Tia ruột gồm 6 đến 10 hàng tế bào thành mỏng.
Định tính
Phương pháp sắc ký lớp mỏng (Phụ lục 5.4). Bản mỏng: Silica gel G. Dung môi khai triển: Toluen – ethyl acetat (95 : 5). Dung dịch thử: Lấy 2 g bột dược liệu, thêm 10 ml ethanol (TT), đun hồi lưu trên cách thủy trong 10 min, lọc. Lấy dịch lọc làm dung dịch thử. Dung dịch đối chiếu: Lấy 2 g bột Mộc hương (mẫu chuẩn), chiết như môt tả ở phần Dung dịch thử. Cách tiến hành: Chấm riêng biệt lên bản mỏng 10 µl mỗi dung dịch trên. Triển khai sắc ký đến khi dung môi đi được khoảng 10 cm, lấy bản mỏng ra, để khô ờ nhiệt độ phòng. Phun hỗn hợp gồm 0,5 ml anisaldehyd (TT) được trộn lần lượt với 10 ml acid acetic khan (TT), 85 ml methanol (TT) và 5 ml acid sulfuric (TT). sấy bản mỏng ở 80 °C đến khi xuất hiện vết. Quan sát dưới ánh sáng thường. Trên sắc ký đồ của dung dịch thử phải có các vết cùng màu và cùng giá trị Rf với các vết trên sắc ký đồ của dung dịch đối chiếu.
Định lượng
Định lượng Tiến hành theo phương pháp định lượng tinh dầu trong dược liệu (Phụ lục 12.7). Dùng 30,0 g bột thô dược liệu, thêm 300 ml nước, cất trong 3 h. Hàm lượng tinh dầu không ít hơn 0,4 %.
Thông tin khác
- Độ ẩm: Không quá 15,0 % (Phụ lục 12.13). Dùng 10 g bột thô dược liệu.
- Bảo quản: Để nơi khô, mát, tránh mốc mọt.
VI. Dược điển Hồng kong
VII. Y dược học cổ truyền
Tên vị thuốc: nan
Tính: Ôn
Vị: Tân-Khổ
Quy kinh: Tỳ, Vị, Đại trường, Tam tiêu, Đởm
Công năng chủ trị: Khổ, tân, ôn. Vào các kinh tỳ vị, đại tràng, can.
Phân loại theo thông tư: Lý khí
Tác dụng theo y dược cổ truyền: nan
Chú ý: nan
Kiêng kỵ: Các chứng bệnh do khí hư, huyết hư mà táo thì không dùng nn




